Loãng xương quanh thế giới

ĐÔI ĐIỀU VỀ LOÃNG XƯƠNG – LOÃNG XƯƠNG QUANH THẾ GIỐI

1- Hầu hết giới nữ quan tâm chăm sóc da từ khi còn trẻ, một ít người trung niện để ý tình trạng đại tràng, nhưng có những ai có biết rằng loãng xương sẽ tác động đến chất lượng sống?
2-Khối xương đạt định cao ở tuổi 25, nhưng để đạt được đỉnh cao đó, chế độ dinh dưỡng đầy đủ Ca, Vit D và vận động thích hợp cần được thực hiện trong cả thời kỳ thơ ấu trước đó. Nếu không cung cấp đủ dinh dưỡng, mật độ xương sẽ không đạt đỉnh cao, và sự cung cấp Ca sau tuổi 25 chỉ bù đắp cho khối xương bị mất đi.
3-Nội tiết tố estrogen ở nữ và testosterone (androgen) ở nam giữ vai trò tạo xương. Phụ nữ mãn kinh, estrogen bị giảm đột ngột làm xảy ra mất xương tức thì, khoảng 20%, ngay các năm sau mãn kinh.
4-Một số chứng bệnh có thể chẩn đoán bằng X quang hay chụp CT, nhưng với loãng xương thì không. Loãng xương được chẩn đoán bằng máy đo mật độ xương (bone densitometry). Đo mật độ xương là cách tốt nhất giúp xác định mức độ nguy cơ loãng xương. BS cơ xương khớp và BS sản-phụ khoa tại cơ sở y tế có máy đo mật độ xương có thể giúp bạn.
5-Một trong các cách phòng ngừa loãng xương là dùng Ca. Nhu cầu Ca từ 9-18 tuổi là 1.300mg/ngày, từ 19-50 tuổi là 1.000mg/ngày, sau 50 tuổi là 1.200mg/ngày. Cá và sữa là nguồn cung cấp Ca.
6-Các sản phẩm từ đậu nành giàu isoflavones, một chất gần giống nội tiết tố nữ estrogen, nên rất tốt cho phụ nữ mãn kinh trong phòng ngừa loãng xương.
7-Cà chua nấu chín, đặc biệt giảm nguy cơ loãng xương. Thịt cua (cua đồng) là nguồn Ca dễ hấp thu rất tốt cho cơ thể. Món bún riêu cua (thịt cua đồng xay nhuyễn nấu với cà chua) là món ăn bổ xương mà chúng ta thừa hưởng từ ông bà truyền lại
8-Để phòng ngừa loãng xương và điều trị loãng xương một khi đã mắc là dùng thuốc chống hủy xương (các thuốc bisphosphonates như Alendonate) là một trong các liệu pháp hữu hiệu giúp chống mất xương, và là lựa chọn đầy tay của BS trong phòng ngừa và điều trị loãng xương.

TRÊN THẾ GIỚI

1. Hàng năm trên thế giới, bệnh loãng xương gây ra 8,9 triệu ca gãy xương, trung bình mỗi 3 giây có 1 ca gãy xương
2. Bệnh loãng xương ảnh hưởng 200 triệu phụ nữ: 1/10 phụ nữ tuối 60, 1/5 phụ nữ tuổi 70, 2/5 tuổi 80 và 2/3 tuổi 90.
3. Có trên 9 triệu ca gãy xương mới hàng năm, trong đó 1,6 triệu ca gãy cổ xương đùi, 1,7 ca gãy xương cẳng tay và 1,4 triệu ca gãy xương đốt sống. Một nữa ca gãy xương thuộc các nước Âu-Mỹ, một nữa còn lại thuộc các quốc gia tây Thái bình dương và Nam và Đông Nam Á
4. Cứ 1 trong 3 phụ nữ trên 50 bị gãy xương do loãng xương và đối với nam là 1 trong 5
5. 80%, 75%, 70% và 58% gãy xương cẳng tay, gãy xương cánh tay, gãy cổ xương đùi và gãy đốt xương sống xảy ra ở phụ nữ
6. 75% ca gãy cổ xương đùi, đốt xương sống, xương cổ tay xảy ra ở bệnh nhân trên 65 tuổi
7. Khoảng năm 2050, gãy cổ xương đùi dự báo sẽ tăng 310% đối với nam và 240% đối với nữ.
8. Kết hợp các nguy cơ gãy cổ xương đùi, gãy xương cẳng tay và gãy đốt xương sống tiêu tốn chi phí y tế đến 40%, tương đương vơí nguy cơ do bệnh tim mạch
9. Bệnh loãng xương gây thiệt hại khổng lồ cho cá nhân và cả nền kinh tế. Riêng ở Châu Âu, bệnh loãng xương gây tàn phế lớn hơn cả do ung thư hay các bệnh mãn tính không lây lan như suyển, thấp khớp và cao huyết áp gây ra.
10. Ở phụ nữ trên 45 tuổi, bệnh loãng xương làm họ phải ở nằm bệnh viện lâu hơn so với khi họ bị các bệnh khác như tiểu đường, nhồi máu cơ tim, ung thư vú.
11. Phần lớn phụ nữ chịu đựng gãy xương đều không được chẩn đoán loãng xương và điều trị
12. Do đa phần phụ nữ không biết nguy cơ loãng xương sau mãn kinh, không được tiếp cận cán bộ y tế về căn bệnh thầm lặng này, cũng như hạn chế tiếp cận các cơ sở chẩn đoán và điều rị loãng xương khiến cho bệnh này không được hẩn đoán và điều trị kịp lúc.

Ở CHÂU Á

Dự báo có khoảng 50% ca gãy cổ xương đùi do loãng xương sẽ xảy ra tại Châu Á vào khoảng 2050
1. Bệnh loãng xương rất hạn chế được chẩn đoán và điều trị do phần lớn dân cư sống xa thành thị, và khi bị gãy cổ xương đùi, họ đa phần điều trị bằng phương pháp dân gian thay vì đến bệnh viện.
2. Kỹ thuật chẩn đoán mật độ xương DXA chưa tiếp cận nhiều đến các quốc gia đang phát triển, đặc biệt ở vùng nông thôn. Thí dụ, năm 2008, ở Indonesia chỉ có 34 máy DXA, phẩn nửa số này ở Jakarta, với dân số 237 triệu (0.001 cho 10,000 dân). Tại các nước Á châu khác, con số này dước mức khuyến cáo của Châu Âu, 0.11 cho 10,000 dân.
3. Hầu hết các nước Á châu dưới mức khuyến cáo của FAO/WHO về nhu cầu Canxi mỗi ngày từ 1000 – 1300 mg/ngày. Lượng Canxi đưa vào cơ thể mỗi ngày của dân Châu Á chỉ khoảng 450 mg/ngày.
Nguồn: Eurekalert và International Oeteoporosis Foundation

Scroll to Top