Loãng xương ở Hoa Kỳ

LOÃNG XƯƠNG Ở HOA KỲ

Xương chắc khỏe bắt đầu từ thời thơ ấu. Bổ sung Canxi, Vitamin D và các hoạt động thể chất chịu lực giúp định hình khối xương. Các hoạt động như chạy, nhảy, leo cầu thang, tập tạ có thể đẩy mạnh quá trình phát triển của xương, chơi thể thao đồng đội là hoạt động thể lực tốt nhất. Ít hoạt động thể chất dẫn đến mất dần khối xương, nhất là trong thời gian dài bất động hoặc ít vận động. Đỉnh điểm phát triển xương xảy ra từ 8-19 tuổi, và khi kết thúc tuổi dậy thì (khoảng 17 tuổi), 90% khối xương trưởng thành của thanh thiếu niên được định hình, và các xương tiếp tục tăng mật độ xương cho tới tuổi 30.

Loãng xương: Khoảng 40 triệu người mắc, hoặc có nguy cơ cao mắc bệnh loãng xương do khối xương thấp. Bệnh loãng xương phát triển khi quá trình hủy xương xảy ra quá nhanh so với quá trình tạo xương thay thế. Những phụ nữ không đạt đỉnh cao phát triển xương thời thành niên (20-30 tuổi) dễ dẫn đến loãng xương. Trong những năm đầu ngay sau mãn kinh, phụ nữ bị mất đến 20% khối xương và tiếp tục mất xương trong những năm sau đó.
Mật độ xương: Theo một báo cáo nghiên cứu sức khỏe và dinh dưỡng, không phân biệt tuổi tác hay chủng tộc, phụ nữ có mật độ xương thấp hơn đàn ông. Người Mỹ da đen ở độ tuổi ≥50, 20–49 và 8-19 tuổi, phụ nữ có mật độ xương thấp hơn đàn ông tương ứng với 15.4%, 9.7% và 6.4%. Phụ nữ Mỹ-gốc Mexico ở độ tuổi 50 trở lên có mật độ xương ít khác biệt nhất so với đàn ông. Người Mỹ nói chung sau tuổi dậy thì, mật độ xương tăng 15% ở nam, và 12% ở nữ. Khi ngoài 50 tuổi, mật độ xương ở nữ giảm 12%, so với nam chỉ giảm 6.1%.
Gãy xương do loãng xương: 28 triệu người Mỹ bị loãng xương dẫn tới 1.5 triệu ca gãy xương mỗi năm. Thông thường người dễ bị gãy cổ xương đùi có chế độ dinh dưỡng kém, bị suy giảm về thể chất và tinh thần, có tiền sử gia đình có người lớn tuổi bị gãy xương. Trong cuộc đời, phụ nữ mất từ 30-50% mật độ xương, và đàn ông mất từ 20-30%. Phụ nữ mãn kinh bị mất lượng canxi trong xương với tốc độ nhanh. Một người già bị gãy cổ xương đùi có thể tử vong trong vòng 3 tháng hoặc không thì sưc khỏe xuống dốc thảm hại. Một trong 5 bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi phải vào nhà điều dưỡng trong vòng 1 năm, số khác trở nên cô lập và trầm cảm hoặc hạn chế đi lại vì sợ bị ngã. Chi phí điều trị gãy xương do loãng xương hàng năm là 18 tỉ đô la.

Trong 353.000 ca gãy xương đùi hàng năm tại Hoa Kỳ, có 90% là do té ngã. Người ở tuổi 50 trở lên bị ngã, gãy cổ xương đùi ở phụ nữ 2 đến 3 lần cao hơn đàn ông. Năm 1996, hơn 323.000 ca nhập viện do gãy cổ xương đùi, tức khoảng 850 ca gãy xương mỗi ngày, và hầu hết xảy ra ở những phụ nữ lớn tuổi. Phụ nữ có chiều cao từ 1,73m trở lên có nguy cơ bị gãy cổ xương đùi cao gấp 2 lần hơn phụ nữ có chiều cao dưới 1,57m. Phụ nữ bị từng bị gãy tay tăng nguy cơ bị gãy cổ xương đùi. Tương lai nạn dịch gãy cổ xương đùi xảy ra khi dân số già đi, và dự đoán khoảng năm 2050, có thể lên đến 650.000 ca gãy cổ xương đùi hàng năm, tức 1.800ca/ngày, gấp đôi con số hiện nay.
Hậu quả: Hầu hết các bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi đều yêu cầu sự hỗ trợ từ phía gia đình hoặc được chăm sóc tại nhà. Tất cả các bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi cần được giúp đỡ tập luyện đi lại trong vài tháng, khoảng phân nửa cần một cây gậy hoặc khung đi bộ vĩnh viễn. Tổng chi phí hàng năm kể cả khoản thu nhập bị mất đi do bị gãy cổ xương đùi là 12.6 tỷ đô la (37,000 đô la/ca). Khoảng 25% bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi hồi phục hoàn toàn, 40% phải ở nhà điều dưỡng, và 51% ở độ tuổi 65 trở lên được đưa vào cơ sở chăm sóc y tế dài hạn.
Lời bình: Trách nhiệm của cán bộ y tế nói chung và dược sĩ tại nhà thuốc nói riêng là cung cấp các hướng dẫn điều trị và lối sống cho những cá nhân dễ bị nguy cơ gãy xương. Cần khuyến khích thực hiện kiểm tra mật độ xương ở phụ nữ 65 tuổi trở lên và nam giới đang áp dụng các liệu pháp có thể gây mất xương. 50% gãy xương là do té ngã do đó nếu một bệnh nhân có mật độ xương thấp, cán bộ y tế nên tư vấn cho họ những biện pháp an toàn phòng ngừa té ngã.
{Theo: Somnath Pal, BS (Pharm), MBA, PhD, Hip Fractures From Falls, US Pharm. 2011;36(1, và Somnath Pal, BS (Pharm), MBA, PhD, Bone Health in Adults, US Pharm. 2012;37(10):8.}

Scroll to Top