Loãng xương – nhìn từ nhà ngoại khoa

LOÃNG XƯƠNG & HẬU QUẢ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGOẠI KHOA

ThS BS Tăng Hà Nam Anh
Trưởng Khoa CTCH BV Nguyễn Tri Phương
Phó GĐ Trung tâm Phẩu thuật thực nghiệm-ĐHYD TP HCM

Trích dẫn bài nói tạibuổi hội thảo “SaVipharm – Những bước đột phá mới” (khách sạn Equatorial, TP. Hồ Chí Minh, ngày 02.6.2013)

Gãy xương – các con số:
Toàn thế giới hiện có trên 200 triệu người bị loãng xương
Tại châu Âu: mỗi 30 giây có 4 ca gãy xương; mỗi năm có 4 triệu ca gãy xương mới, chi phí điều trị lên đến 37 tỉ Euro.
Tại VN năm 2010: có 2,8 triệu người bị loãng xương, 170.000 người bị gãy xương, 25.663 ngườì bị gãy cổ xương đùi. Dự báo tới năm 2030: các số liệu này đều tăng 172 – 174 %, tức có khoảng 4,5 triệu người bị loãng xương, 262.650 người bị gãy xương, 40.700 người bị gãy cổ xương đùi.
Tại sao quan tâm đến loãng xương
Nguy cơ gãy xương và “mật độ xương”: tương quan theo cấp số lũy thừa giữa sự giảm”mật độ xương” và tăng cao tỉ lệ gãy xương
Nguy cơ gãy xương và tuổi: 3 loại gãy xương phổ biến do loãng xương là: gãy cổ xương đùi (hip fracture), gãy xương cột sống (vertebral fracture), gãy xương tay (Colles’ fracture) tăng dần theo tuổi, từ sau khoảng tuổi 40 (xem biểu đồ)

Gãy xương: biến cố nghiêm trọng
Bởi vì gãy xuơng sẽ gây ra các điều sau: a-tăng nguy cơ tử vong, b-nguy cơ gãy xương lần thứ hai, c-giảm chất lượng cuộc sống: đi lại khó khăn, d-chi phí điều trị cao
Bốn yếu tố quan trọng nhất có thể dẫn tới gãy xương là: cao tuổi, tiền sử gãy xương, té ngã, mật độ xương thấp (hoặc trọng lượng thấp).
Nếu có tiền sử gãy xương: sẽ làm tăng nguy cơ gãy xương lên 1.5–9.5 lần; nguy cơ này tùy thuộc vào: số lần gãy xương trước đây, vùng xương bị gãy, tuổi, té ngã.

Biến chứng: loét do nằm lâu ở bệnh nhân bị gãy xương  cổ xương đùi.

Phòng ngừa nguy cơ loãng xương.
Đo mật độ xương là “tiêu chuẩn vàng” để phát hiện loãng xương, từ đó có biện pháp điều trị loãng xương và phòng ngừa gãy xương. Đo mật độ xương là một phương pháp an toàn do phóng xạ rất thấp, thao tác đo nhanh và thoải mái, dễ sử dụng (có thể mặc đồ) và không xâm lấn.
Dưới đây là tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương theo Tổ chức y tế thế giới (WHO):
CHẨN ĐOÁN T-SCORE
   Bình thường T-CORE ³ -1SD
   Thíếu xương -2,5SD < T-SCORE < -1SD
   Loãng xương T-SCORE ≤ -2,5SD
   Loãng xương nặng T-SCORE ≤ -2,5SD + ít nhất 1 lần gãy xương do loãng xương
Những yếu tố can thiệp điều trị loãng xương cho bệnh nhân là: người có tuổi trên 65, T- score -2.5, gãy xương hông, gãy xương do té ngã nhiều lần, gãy xương đốt sống, tiền sử cha mẹ gãy cổ xương đùi, tiền sử té ngã.
Phụ nữ Việt Nam có cần phải điều trị loãng xương sau khi đã bị gãy xương hay không?
Tần xuất gãy xương cột sống hình thái học, ở phụ nữ Việt nam loãng xương sau mãn kinh tại TP Hồ chí Minh là 23% (nghiên cứu năm 2009), dưới 20% ở độ tuổi 50-69, và 40% ở độ tuổi trên 70. Ngoài ra, gãy cổ xương đùi được dự báo gia tăng.
Loãng xương là bệnh có thể phòng ngừa, bằng cách: cung cấp calcium và vitamin D theo nhu cầu, tập thể dục thường xuyên, giảm nguy cơ té ngã, giữ cân nặng hợp lý, ngưng hút thuốc, giảm rượu bia như hình sau đây:

Để điều trị loãng xương có thể dùng: thuốc chống hủy xương (anti-resorption) như Bisphosphonates, Calcitonine, các chất tương tự Estrogen; hoặc thuốc tăng tạo xương (bone-forming) như strontium..; hoặc các thuốc khác như Calcitriol..
Bisphosphonates (BPHs như Alendronate) là nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất trên thế giới và được khuyến cáo là thuốc đầu tay trong điều trị loãng xương. Hiệu quả của BPHs là nhờ có tác dụng hiệp lực của Vit D và Calcium được uống bổ sung. Vitamin D, 700-800 IU một ngày làm giảm 26% nguy cơ gãy xương chậu và 23% nguy cơ gãy xương ngoài xương sống ở người già; Calcium, 1000 mg/ngày làm giảm 24% nguy cơ gãy xương chậu. Hiện nay, Alendronate có dữ liệu chứng minh tính an toàn và hiệu quả với thời gian theo dõi lên đến 10 năm (FLEX study_JAMA, 2006, Henry G. Bone. NEJM 2004). Hiệu quả trong phòng ngừa gãy xương do loãng xương và giá thành hợp lí, Alendronate chính là lựa chọn đầu tay (first line therapy) trong hầu hết các trường hợp. Với bệnh nhân không dung nạp hoặc có chống chỉ định với Alendronate, nên xem xét sử dụng các loại BPHs khác hoặc Strontium ranelate hoặc Raloxifen.

Tóm tắt:
 Loãng xương là một căn bệnh nguy hiểm, cần được phòng ngừa, cần được chẩn đoán và điều trị sớm. Khi bệnh nhân đã bị gãy xương cần được điều trị để ngăn ngừa một gãy xương mới.
 Tăng nguy cơ tử vong sau gãy xương
 Yếu tố nguy cơ chính: cao tuổi, tiền sử gãy xương, mật độ xương thấp, té ngã
 Sử dụng thuốc (BPHs + Vit D, Canxi) khi loãng xương. Cần chú ý yếu tố loét thực quản trên các thuốc kinh điển
 Dạng bào chế viên sủi (như Savi Osmax – alendronate dạng sủi) có thể giúp giảm nguy cơ loét thực quản, ít bất tiện cho bệnh nhân

Viên sủi SAVI OSMAX – dự phòng & điều trị loãng xương
Scroll to Top